Cây Dâu tây (Fragaria × ananassa) thuộc họ Rosaceae là một trong những cây ăn trái quan trọng của thế giới. Quả Dâu tây chứa nhiều khoáng chất cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người như vitamin C, vitamin B1, kali, canxi, sắt… Ngoài ra, quả Dâu tây còn chứa các hợp chất phenolic như anthocyanin, glucose cinamoyl, ellagitannin, acid ellagic. Cây Dâu tây được trồng thương mại tại nhiều nước trên thế giới (hơn 80 quốc gia) với tổng diện tích là 372.361 ha và đạt tổng sản lượng là 8.337.099 tấn vào năm 2018. Các nước Mỹ, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Ai Cập và Trung Quốc là những nước có sản lượng Dâu tây hàng đầu thế giới, trong đó Trung Quốc là nước sản xuất lớn nhất. Sản lượng Dâu tây tiếp tục tăng trong những năm gần đây, đặc biệt là ở châu Á, Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Bắc Phi cùng với sự gia tăng nhu cầu ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, cây Dâu tây được trồng nhiều tại Đà Lạt, với diện tích trồng đạt khoảng 190 ha ở các phường 4, 6, 7, 8, 9, 11 và xã Xuân Thọ với sản lượng Dâu tây trong năm 2018 đạt trên 2.200 tấn.

Vi nhân giống cây Dâu tây là phương pháp tối ưu nhằm sản xuất cây giống sạch bệnh, đồng nhất với số lượng lớn. Các nghiên cứu trước đây thường tập trung nghiên cứu về chất điều hòa sinh trưởng lên quá trình tạo nguồn mẫu in vitro, hình thành mô sẹo, sinh trưởng, phát triển của chồi, tạo cây hoàn chỉnh in vitro. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm mang lại thì hệ thống vi nhân giống còn gặp phải một số khó khăn như việc nhiễm vi sinh vật (vi khuẩn, nấm); ngoài ra với một số đặc điểm như: bình nuôi cấy kín với độ ẩm cao, cường độ ánh sáng thấp, sử dụng đường làm nguồn năng lượng… có thể làm xuất hiện một số hiện tượng bất thường (hiện tượng thủy tinh thể, vàng lá, rụng lá, hiện tượng hóa nâu…) ở các cây nhân giống in vitro. Một trong những vấn đề thường gặp trong vi nhân giống cây Dâu tây là hiện tượng thủy tinh thể (là hiện tượng tích lũy nước quá mức trong cây) với các biểu hiện hình thái như cây bị mọng nước, thân giòn, dễ gãy, lá vàng úa, biến dạng cong hoặc xoăn; cây sinh trưởng và phát triển chậm dẫn đến giảm chất lượng cây giống và tỷ lệ sống sót thấp khi chuyển ra vườn ươm. Điều này được giải thích là do trong quá trình sinh trưởng và phát triển, mẫu cấy sản sinh ra khí ethylene và tích lũy trong các bình nuôi cấy kín. Nhằm khắc phục các bất thường trong vi nhân giống, gia tăng sinh trưởng và phát triển để nâng cao chất lượng cây giống, một số kĩ thuật như sử dụng bình thoáng khí và bổ sung than hoạt tính vào môi trường nuôi cấy đã được nghiên cứu. Ngoài ra, một số hiện tượng bất thường của cây Dâu tây vẫn chưa được giải quyết triệt để. Đã có một số nghiên cứu tiến hành bổ sung nano bạc vào môi trường nuôi cấy góp phần nâng cao chất lượng cây con, khắc phục được một số hiện tượng bất thường trong nuôi cấy in vitro trên cây hoa Đồng tiền, cây hoa Hồng. Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu tương tự trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau để nghiên cứu tác động của nano bạc lên chất lượng cây giống in vitro.

Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của các hạt nano bạc đối với việc khử trùng mẫu cấy, sự sinh trưởng của mẫu cấy in vitro (nhân chồi và ra rễ), cũng như sự tích lũy khí ethylene trong quá trình vi nhân giống cây Dâu tây đã được nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy mẫu lá được khử trùng bằng dung dịch nano bạc (200 mg/L trong 20 phút) cho hiệu quả khử trùng mẫu cấy và tái sinh chồi cao hơn so với sử dụng 1 g/L HgCl2. Ngoài ra, nano bạc kích thích sự phát triển của chồi và cây con, đồng thời rút ngắn thời gian hình thành rễ (4 ngày) so với đối chứng (không có nano bạc) trong quá trình vi nhân giống. Bên cạnh đó, nano bạc làm giảm sự tích lũy khí ethylene trong các bình nuôi cấy của chồi (0,66 ppm) và cây (0,06 ppm) so với đối chứng (1,77 ppm; 0,15 ppm; tương ứng). Hơn nữa, sự kết hợp nano bạc với thời gian nuôi cấy (5; 10 hoặc 15 ngày) ảnh hưởng đến giai đoạn hình thành rễ và thích nghi trong điều kiện vườn ươm. Các cây con được nuôi cấy trên môi trường MS được bổ sung 0,5 mg/L nano bạc trong 10 ngày cho tỷ lệ sống sót cao hơn (93,33%) sau 15 ngày cũng như sự hình thành cây ngó (runner) trên mỗi cây (8,00 runner) sau 60 ngày trong điều kiện vườn ươm so với những cây con trong điều kiện đối chứng đối chứng.

Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Plant Cell, Tissue and Organ Culture (PCTOC) 145: 393-403 (2021).

Ảnh hưởng của nồng độ nano bạc và thời gian nuôi cấy khác nhau lên sinh trưởng của cây ngó Dâu tây sau 60 ngày trồng tại vườn ươm (Thước đo: 5 cm)

A: Ra rễ 5 ngày (đối chứng); B: Ra rễ 10 ngày (đối chứng); C: Ra rễ 15 ngày (đối chứng); D: ra rễ 5 ngày (0,5 mg/L nano bạc); E: Ra rễ 10 ngày (0,5 mg/L nano bạc); F: Ra rễ ngày 15 (0,5 mg/L nano bạc)

Tin, ảnh: Thanh Tùng

Nguồn tin:

Tung H. T., Thuong T. T., Cuong D. M., Luan V. Q., Hien V. T., Hieu T., Nam N. B., Phuong H. T. N., Vinh B. V. T., Khai H. D., Nhut D. T. (2021), "Silver nanoparticles improved explant disinfection, in vitro growth, runner formation and limited ethylene accumulation during micropropagation of strawberry (Fragaria × ananassa)", Plant Cell, Tissue and Organ Culture (PCTOC), 145(2), 393-403. https://link.springer.com/article/10.1007/s11240-021-02015-4.

Thống Kê

1531748
Today
Yesterday
This Week
Last Week
This Month
Last Month
All days
3
131
511
1529848
3767
6852
1531748

Your IP: 3.237.16.210
2021-10-21 00:57